Chuyển tới nội dung

"Hãy cho doanh nghiệp đầu tư và cho Nhà nước thuê dịch vụ CNTT"

17-12-2012
Tiến sĩ Phùng Văn Ổn, GĐ Trung tâm Tin học (Văn phòng Chính phủ) cho rằng, giải bài toán phức tạp về kết nối liên thông hệ thống CNTT giữa các CQNN cần có cách tiếp cận mới là cho DN đầu tư xây dựng hệ thống ứng dụng CNTT theo phương thức đầu tư và cho thuê dịch vụ CNTT.

Tiến sĩ Phùng Văn Ổn, GĐ Trung tâm Tin học (Văn phòng Chính phủ) cho rằng, giải bài toán phức tạp về kết nối liên thông hệ thống CNTT giữa các CQNN cần có cách tiếp cận mới là cho DN đầu tư xây dựng hệ thống ứng dụng CNTT theo phương thức đầu tư và cho thuê dịch vụ CNTT.

Theo nhiều địa phương, đang có sự chồng chéo giữa các dự án CNTT do địa phương triển khai với các dự án do ngành dọc thực hiện, hệ quả là hệ thống CNTT không kết nối được với nhau, khó ứng dụng và gây lãng phí đầu tư. Theo ông tại sao có tình trạng này?

Ở cấp độ kết nối ngang giữa các Bộ, cơ quan ngang bộ trực thuộc Chính phủ là chưa có. Còn kết nối theo ngành dọc thì có nhiều ngành đã làm rồi và ứng dụng khá tốt. Ví dụ: ngành Tài nguyên - môi trường, hải quan, thuế, kho bạc... đang triển khai được nhiều ứng dụng qua mạng vì các cơ quan này làm hệ thống đồng bộ từ trên xuống dưới. Tuy nhiên, còn nhiều địa phương vẫn triển khai các dự án CNTT theo kiểu nhỏ lẻ, dẫn đến tình trạng không kết nối được.

phungvanon

Để có thể kết nối liên thông các hệ thống CNTT từ Trung ương đến địa phương, kết nối giữa các CQNN trực thuộc Chính phủ cần đảm bảo một trong hai yêu cầu. Một là, cần theo một chuẩn công nghệ thống nhất từ Trung ương tới tận cấp cơ sở, do một đơn vị triển khai đồng nhất trên toàn bộ hệ thống. Hoặc là, các CQNN cứ tự phát triển những dự án riêng nhưng phải đảm bảo hai ràng buộc kết nối về chuẩn công nghệ và chuẩn nội dung. Chuẩn công nghệ do cơ quan quản lý nhà nước (Bộ TT&TT - PV) ban hành, các đơn vị khi triển khai dự án CNTT nhất thiết phải thực hiện đúng theo chuẩn này. Còn chuẩn về nội dung thông tin của ngành nào sẽ do Bộ chủ quản ngành đó ban hành thống nhất với đặc thù của ngành đó. Ví dụ, Bộ Y tế phải ban hành chuẩn quản lý các cấp từ Bộ tới các Sở y tế, bệnh viện, các Cục, Vụ quản lý chuyên ngành từ Trung ương tới địa phương. Hay ngành Giáo dục phải có bộ chuẩn quản lý các cấp từ Bộ tới các Sở, trường Đại học, trường phổ thông trên toàn quốc.

Tóm lại, chuẩn công nghệ thì phải dùng chung, còn chuẩn nội dung thì của ngành nào ngành đó phải ban hành, mỗi ngành có một chuẩn riêng phù hợp với yêu cầu quản lý của mình. Khi đó các hệ thống CNTT mới có thể "nói chuyện" được với nhau

Thực tế, Bộ TT&TT đã ban hành có chuẩn ứng dụng CNTT trong các CQNN song nhiều đơn vị không áp dụng mà vẫn "mạnh ai nấy làm" nên mới có câu chuyện các dự án từ Trung ương xuống địa phương không kết nối được với hệ thống cơ sở dữ liệu (một số địa phương do nhu cầu hoặc mạnh dạn tự làm từ trước).

Hệ quả là một số địa phương không muốn dùng các dự án triển khai sau này vì chưa được kiểm chứng, đánh giá nên không thể thay thế dự án mà địa phương đang ứng dụng. Điều này gây chồng chéo, lãng phí đầu tư mà hiệu quả ứng dụng CNTT lại chưa đạt.

Theo ông, cần có giải pháp nào để các hệ thống CNTT có khả năng liên thông được trong tình hình chi tiêu công bị hạn chế tối đa như hiện nay?

Khuynh hướng xây dựng hệ thống CNTT có khả năng liên kết liên thông từ Trung ương đến địa phương là câu chuyện rất phức tạp. Để có thể giải quyết vấn đề này cần tiếp cận theo hướng khác, chưa có tiền lệ, đó là phải giao cho doanh nghiệp đầu tư. Hướng giải quyết là nhà nước sẽ lựa chọn một doanh nghiệp đủ tiềm lực (cả về con người, tài chính và công nghệ) triển khai hệ thống CNTT theo phương thức làm dịch vụ một cách thống nhất mới giải quyết được bài toán liên thông.

Với các hệ thống CNTT đã làm thì cái nào tận dụng được sẽ tận dụng, cái nào không còn tận dụng được thì phải mạnh dạn bỏ nó đi. Có thế mới giải được bài toán liên thông, còn nếu cứ làm theo kiểu dự án phân cấp cho các ngành, các địa phương tự triển khai như hiện nay sẽ không bao giờ liên thông được.

Dự án nền tảng đầu tiên cần làm là xây dựng dự án gửi nhận văn bản giữa các CQNN trên toàn quốc. Vì hiện nay các CQNN vẫn điều hành bằng hệ thống văn bản giấy, nếu có hệ thống email quốc gia sẽ hỗ trợ được rất nhiều. Cần làm hệ thống email quốc gia đầu tiên để phục vụ việc gửi nhận văn bản từ Trung ương đến địa phương, đây cũng là hệ thống CNTT sơ khai nhất giải quyết được câu chuyện phát hành văn bản một cách nhanh nhất. Tiếp đến bước 2 nâng cấp lên thành hệ thống hỗ trợ và xử lý văn bản và nâng cấp dần hệ thống để cung cấp các dịch vụ công tiếp theo. Nếu giải quyết được câu chuyện này sẽ hình thành một hệ thống chỉ đạo trên mạng giữa cơ quan các cấp với nhau.

Hiện có 3 doanh nghiệp Việt Nam đủ tiềm lực để đầu tư vào lĩnh vực CNTT là VNPT,Viettel và FPT. Doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư còn CQNN sử dụng theo hình thức thuê lại trả phí dần theo từng năm. Như vậy sẽ giải được bài toán thiếu kinh phí đầu tư cho các dự án chi từ ngân sách trong bối cảnh kinh tế khó khăn. Quan trọng nhất là nhà nước phải có cơ chế cho doanh nghiệp thu hồi vốn, đây là khó khăn lớn nhất vì hiện chưa có một cơ chế về việc đầu tư và cho thuê dịch vụ CNTT.

Thưa ông, nếu cho doanh nghiệp triển khai ứng dụng CNTT trong CQNN theo kiểu đầu tư trước và thu hồi vốn sau sẽ có lợi thư thế nào?

Về chi phí rẻ hơn hay không chưa tính được, nhưng nếu tính trên phương diện lợi ích thì có lợi hơn nhiều. Cho thuê dịch vụ CNTT là một xu thế tất yếu của xã hội, các quốc gia tiên tiến như Nhật Bản hay Hàn Quốc đã làm dịch vụ về lĩnh vực CNTT từ lâu.

Theo tôi có 3 lợi ích có thấy rõ: trên quan điểm thiết kế là một hệ thống CNTT thống nhất, không bị câu chuyện nhiều mảnh ghép khác nhau ghép lại; thứ hai là triển khai đồng bộ, thứ ba là nhà nước không phải chuẩn bị một nguồn kinh phí lớn đầu tư ban đầu mà chỉ trả dần theo từng năm. Ví dụ, CQNN cam kết sử dụng dùng dịch vụ trong 5 - 10 năm, doanh nghiệp đầu tư kinh phí bao nhiêu sẽ chia ra nhà nước trả dần theo từng năm cộng với một khoản lợi nhuận vừa phải cho doanh nghiệp. Đầu tư kiểu này giống như đầu tư BOT trong lĩnh vực giao thông (doanh nghiệp đầu tư khai thác thu hồi dần).

Một lợi ích khác nữa là làm theo hướng thuê dịch vụ của doanh nghiệp sẽ đồng bộ hơn, nhanh hơn về mặt thời gian. Nếu để các CQNN tự làm dự án quy trình thủ tục rất lâu, từ chuẩn bị đầu tư cho đến lúc triển khai có khi 2 - 3 năm còn chưa xong một dự án.

Xin chân thành cảm ơn!

-Theo ICTNews-

1 bầu chọn / Điểm: 5